Hình 1. Ngày 1/9/1858, quân Pháp nổ súng tấn công vào bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng)
Sau một thời gian thăm dò và chuẩn bị, ngày 1/9/1858, quân Pháp
nổ súng tấn công vào bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng), mở đầu cho thời kì xâm lược và
thống trị ở Việt Nam.
Bị sa lầy ở mặt trận Đà Nẵng suốt 5 tháng, quân Pháp buộc
phải thay đổi kế hoạch. Vào tháng 2/1859, họ đem quân vào Gia Định để mở mặt
trận mới nhưng vấp phải cuộc kháng Pháp rộng khắp, bền bỉ của nhân dân, kế
hoạch “đánh nhanh, thắng nhanh” của Pháp thất bại và việc xâm chiếm Việt Nam phải
kéo dài gần 3 thập kỉ. Trong quá trình đó, Pháp đã thực hiện phương châm “tằm
ăn lá” là từng bước chiếm đất, lấn chủ quyền và thiết lập bộ máy cai trị.
Hình
2. Ngày 17/2/1859, Pháp đem quân vào Gia Định để mở mặt trận mới
Đến tháng 3/1862, tức là sau khi quân Pháp chiếm Đại đồn Chí
Hoà (23/2/1861), Pháp đã chiếm được ba tỉnh miền Đông bao gồm Gia Định (17/2/1859), Định Tường
(12/4/1861), Biên Hoà (18/12/1861) và một tỉnh miền Tây Nam Kỳ là Vĩnh Long
(23/3/1862).
Cuộc kháng chiến của nhân dân ba tỉnh miền Đông ngày càng
phát triển mạnh mẽ (ngày 10/12/1861, Nguyễn Trung Trực chỉ huy nghĩa quân đánh
chìm tàu Ét- pê-răng của Pháp đậu trên sông Vàm Cỏ Đông) khiến quân Pháp gặp
nhiều khó khăn, hoang mang và bối rối.
Giữa lúc đó, triều đình Huế kí với Pháp Hiệp ước Nhâm Tuất
(5/6/1862) gồm 12 điều khoản, trong đó có những điều khoản chính như: nhượng
hẳn cho Pháp ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ (Gia Định, Định Tường, Biên Hoà) và đảo
Côn Lôn; bồi thường 20 triệu quan (khoảng 280 vạn lạng bạc); mở các cửa biển Đà
Nẵng, Ba Lạt, Quảng Yên cho thương nhân Pháp và Tây Ban Nha vào tự do buôn bán,
kèm theo nhiều nhượng bộ nặng nề khác về chính trị, quân sự,…
Hình
3. Triều đình Huế kí với Pháp Hiệp ước Nhâm Tuất (5/6/1862) gồm 12 điều khoản
Sau khi chiếm được sáu tỉnh Nam Kỳ (1867), thực dân Pháp
từng bước thiết lập bộ máy cai trị, biến nơi đây thành bàn đạp chuẩn bị mở rộng
cuộc chiến tranh ra cả nước.
Tháng 11/1872, ỷ thế nhà Thanh, Đuy- puy (một liên lạc của
Pháp hoạt động trên vùng biển Việt Nam- Trung Quốc) ngang nhiên cho tàu vượt
sông Hồng lên Vân Đồn buôn bán, ra sức cướp thuyền gạo, bắt quan, lính và dân
ta đưa xuống tàu, khước lời mời thương thuyết của Tổng đốc Hà Nội Nguyễn Tri
Phương. Thực dân Pháp ở Sài Gòn phái Đại uý Gácniê đưa quân ra Bắc giải quyết
“vụ Đuy- puy”.
Ngày 5/11/1873, đội tàu chiến của Gácniê đến Hà Nội và giở
trò khiêu khích.
Sáng 19/11/1873, Gácniê gửi tối hậu thư cho Tổng đốc Nguyễn
Tri Phương yêu cầu nộp thành. Không đợi trả lời, mờ sáng hôm sau (20/11/1873),
quân Pháp nổ súng đánh thành. Ngay sau đó, quân Pháp nhanh chóng đánh chiếm các
tỉnh thành ở đồng bằng Bắc Kỳ: Hưng Yên, Hải Dương, Ninh Binh, Nam Định.
Hình
4. Ngày 20/11/1873, quân Pháp nổ súng đánh thành
Hà Nội lần thứ nhất
Trước hành động của quân Pháp, nhân dân ta kháng cự quyết
liệt. Trận đánh gây được tiếng vang lớn nhất lúc bấy giờ là trận phục kích của
quân ta tại Cầu Giấy ngày 21/12/1873 do Hoàng Tá Viêm chỉ huy có sự kết hợp với
đội quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc. Tướng Gácniê bị tiêu diệt.
Hình
5. Trận phục kích của tại Cầu Giấy ngày 21/12/1873
Chiến thắng Cầu Giấy ngày 21/12/1873 đã khiến quân Pháp hoang
mang, cực độ, tìm mọi cách thương lượng, còn ta thì phấn khởi, hăng hái đánh
giặc. Đây là thời cơ thuận lợi để đánh đuổi quân Pháp nhưng triều đình Huế đã
bỏ lỡ. Thay vào đó, triều đình Huế lo sợ nên vội vã kí với Pháp Hiệp ước Giáp
Tuất vào ngày 15/3/1874 tại Sài Gòn.
Theo bản Hiệp ước này, Pháp sẽ rút khỏi Hà Nội và các tỉnh
đồng bằng Bắc Kỳ, nhưng triều đình Huế cũng chính thức thừa nhận chủ quyền của
Pháp ở sáu tỉnh Nam Kỳ, cam kết mở cửa Thị Nại (Quy Nhơn), cửa Ninh Hải (Hải
Phòng), tỉnh lị Hà Nội và sông Hồng cho Pháp vào buôn bán. Ở những nơi đó, Pháp
có quyền mở mang công nghệ, xây dựng kho tàng, thuế mướn nhân công, đặt lãnh sự
có quân lính bảo vệ. Nền ngoại giao nước ta cũng lệ thuộc vào đường lối ngoại
giao của nước Pháp.
Việc xâm lược Bắc Kỳ và toàn bộ Việt Nam vào cuối những năm
70 và đầu những năm 80 của thế kỷ XIX không còn là mưu đồ của một nhóm thực dân
hiếu chiến, phiêu lưu như trước, mà đã trở thành chủ trương chung của giới tư
bản tài phiệt đang nắm quyền ở Pháp.
Khác với lần thứ nhất, lần này thực dân Pháp can thiệp bằng
lực lượng vũ trang, lấy cớ triều đình Huế không thi hành đúng các điều khoản
của Hiệp ước 1874, ngăn trở người Pháp đi lại buôn bán trên sông Hồng, cấm và
giết những người theo đạo Thiên Chúa…nên Pháp đưa quân ra Bắc vào năm 1882.
Ngày 3/4/1882, quân Pháp do Hăngri Rivie chỉ huy, tiến vào
Hà Nội. Tình hình Hà Nội hết sức căng thẳng do binh lính Pháp vác súng nghênh
ngang đi lên trên đường phố, tên chỉ huy Pháp đòi Tổng đốc Hà Nội Hoàng Diệu
phải rút quân ra khỏi thành để chúng vào quân và phá huỷ các công sự phòng thủ
trên mặt thành.
Mờ sáng 25/4/1882, Rivie gửi tối hậu thư cho Hoàng Diệu đòi
nộp thành, không nhận lời hồi đáp, quân Pháp đã nổ súng.
Hình
6. Mờ sáng 25/4/1882, quân Pháp nổ súng đánh thành Hà Nội
lần thứ hai
Khi quân Pháp nổ súng tấn công, nhân dân Bắc Kỳ đã anh dũng
đứng lên chiến đấu. Ngày 19/5/1883, Rivie huy động quân có đại bác yểm trợ, mở
cuộc hành quân đánh ra ngoài Hà Nội. Nắm được ý đồ của quân Pháp, quân dân ta
đã cùng đội quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc tổ chức phục kích tại Cầu Giấy. Rivie
phải bỏ mạng.
Chiến thắng Cầu Giấy lần thứ hai ngày 19/5/1883 đã làm nức
lòng nhân dân cả nước, bồi đắp thêm ý chí quyết tâm tiêu diệt giặc của nhân
dân. Tình hình rất thuận lợi cho cuộc kháng chiến của ta. Song tình thế lúc bày
khác trước, lợi dụng cái chết của Rivie, chính phủ Pháp vận động đẩy mạnh chiến
tranh và khẩn trương gửi viện binh sang Việt Nam. Tiếp đó, quân Pháp đã thông
qua một kế hoạch mở cuộc tấn công thẳng vào Kinh đô Huế, buộc triều đình nhà
Nguyễn đầu hàng.
Hình
7. Trận phục kích tại Cầu Giấy ngày 19/5/1883
Sau khi vua Tự Đức
băng vào ngày 19 tháng 7 năm 1883 (tức ngày 16 tháng
6 năm Quý Mùi), quân Pháp tấn công vào cửa biển Thuận An (18/8/1883), buộc
triều đình Huế phải đầu hàng, kí Hiệp ước Harmand (25/8/1883).
Ngày
19/7/1883 (tức
ngày 16 tháng 6 năm Quý Mùi), vua Tự Đức băng hà, hai quan Phụ chính
là Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết theo Di chiếu của Tiên đế, đưa Dục Đức
lên ngôi.
Hình
8. Vua Tự Đức băng vào ngày 19 tháng 7 năm 1883
Vì
Tường và Thuyết vốn không ưa Dục Đức nên lấy cớ trong Di chiếu có một số nhận
xét về điểm xấu, hạn chế của người kế vị bị cố tình đọc nhỏ đi, nên hai quan
Phụ chính đại thần bắt phải đọc to đoạn nhận xét đó, đồng thời nổi trống bãi
triều, sai lính giam lỏng Dục Đức (Dục Đức mới làm vua được 3 ngày), để lập vua
Hiệp Hòa (em của vua Tự Đức - Lãng Quốc Công).
Trong
khi đó, bộ binh của thiếu tướng Bouet hoạt động tại Bắc Kì, thiếu tướng Courbet
đem hạm đội tới đánh cửa Thuận An (18/8/1883).Trước sự biểu dương lực lượng của
quân Pháp, triều đình Huế phải đề nghị xin hòa. Tổng ủy Harmand tới Huế để
thương lượng và một bản hòa ước đã được kí kết ngày 25/8/1883 gọi là hòa ước Quý
Mùi hay hòa ước Harmand.
Hình
9. Hiệp ước Harmand (25/8/1883)
Đêm 4
rạng 5 tháng 7 năm 1885, Tôn Thất Thuyết phát động cuộc tấn công quân Pháp ở
kinh thành Huế.
Đêm 4 rạng sáng 5
tháng 7 năm 1885, hai đạo quân của triều đình cùng lúc tấn công các căn cứ của Pháp
tại Huế. Đạo thứ nhất do Tôn Thất Lệ (em ruột Tôn Thất Thuyết) chỉ huy vượt qua
sông Hương đánh thẳng vào toà Khâm sứ Pháp; đạo thứ hai do Trần Xuân Soạn chỉ
huy đánh đồn Mang Cá ở góc đông bắc kinh thành Huế.
Hình
10. Cuộc phản phản công quân Pháp vào kinh thành Huế của phe chủ chiến (7-1885)
Bị tấn công bất ngờ, lúc đầu quân Pháp hoảng loạn nhưng sau
đó chấn chỉnh lực lượng và tới gần sáng thì mở cuộc phản công. Trên đường tiến
quân, quân Pháp trắng trợn cướp bóc tài sản và tàn sát dã man những người dân
vô tội. Trong ngày hôm đó, hầu như ở Huế, nhà nào cũng có người bị giết, sau
này nhân dân Huế đã lấy ngày 23-5 Âm lịch làm ngày giỗ chung (ngày thổi cơm
chung)
Triều đình Hàm Nghi
bôn tẩu đi kháng chiến và bị bắt.
Sáng
5 tháng 7, Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi cùng đoàn tuỳ tùng ra khỏi hoàng
thành, theo đường chạy ra phía Bắc. Ngày 13-7-1885, tại sơn phòng Tân Sở (Quảng
Trị), ông lấy danh nghĩa vua Hàm Nghi ra Chiếu Cần Vương - kể lại tình hình
chiến đấu, lý do rời bỏ kinh thành, kịch liệt tố cáo tộc ác của giặc và hô hào
toàn dân ứng nghĩa giúp vua chống xâm lược.
Hình
11. Toàn văn Chiếu Cần Vương
Ở
lại Quảng Trị một thời gian, để tránh sự truy lùng gắt gao của quân Pháp, Tôn
Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi vượt sang mượn đường phía Tây Trường Sơn trên đất
nước Lào chạy ra sơn phòng Ấu Sơn (làng Phú Gia, huyện Hương Khê, Hà Tĩnh). Tại
đây lại ra Chiếu Cần Vương thứ hai (20-9-1885) ngoài nội dung tố cáo giặc và cổ
vũ động viên nhân dân chiến đấu đến cùng vì sự nghiệp giúp vua cứu nước, còn
vạch mặt triều đình Đồng Khánh mới được thực dân Pháp đặt lên ngôi (19-9-1885)
để cộng tác trong việc ổn định tình hình và trấn áp phong trào yêu nước của
nhân dân.
Hình
12. Bản đồ hành trình triều đình Hàm Nghi bôn tẩu đi kháng chiến
Hưởng
ứng lời kêu gọi thống thiết của nhà vua trẻ tuổi yêu nước, dưới sự lãnh đạo của
các văn thân sĩ phu, nhân dân ta trên khắp mọi miền đất nước đã sôi nổi đứng
lên chống xâm lược Pháp và bè lũ tay sai.
Phong trào Cần Vương
bùng nổ, những cuộc khởi nghĩa đi dần vào thất bại trước sức tấn công đánh phá
của thực dân Pháp và tay sai.
Phong trào Cần Vương bùng nổ từ sau sự biến kinh thành Huế
vào đầu tháng 7-1885 đã phát triển qua 2 giai đoạn:
Giai đoạn thứ nhất (1885 – 1888)
Đặc điểm của giai đoạn này là phong trào còn đặt đến một trình độ
nhất định dưới sự chỉ huy thống nhất của Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết.
Về mức độ, phong trào bùng nổ tức thời rầm rộ, rộng khắp, bao gồm
hàng loạt cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ. Địa bàn phong trào mở rộng trên phạm vi cả
nước, phía Bắc từ Quảng Trị, Quảng Bình ra đến tận Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hoá,
phía Nam từ Quảng Nam vào Quảng Ngãi, Bình Định. Tiêu biểu là các cuộc khởi
nghĩa ở các địa phương sau:
Tên
địa phương
|
Người
lãnh đạo
|
Quảng
Trị
|
Trương
Đình Hội, Nguyễn Tự Như
|
Quảng
Bình
|
Lê
Trực, Nguyễn Phạm Tuân
|
Hà
Tĩnh
(Đức
Thọ, Hương Sơn, Hương Khê)
|
Lê
Ninh, Phan Đình Phùng, Cao Thắng
|
Nghệ
An
(Yên
Thành, Diễn Châu)
|
Nguyễn
Xuân Ôn, Lê Doãn Nhạ
|
Thanh
Hoá
(Nga
Sơn, Vĩnh Lộc)
|
Phạm
Bành và Đinh
Công Tráng, Tống Duy Tân và Cao Điển
|
Vùng
đồng bằng Bắc Kỳ
(Thái
Bình, Hải Dương)
|
Đề
đốc Tạ Hiện, Nguyễn Thiện Thuật.
|
Vùng
Lạng Sơn, Bắc Giang
|
Hoàng
Đình Kinh (Cai Kinh)
|
Vùng
Tây Bắc
(vùng
sông Đà)
|
Ngô
Quang Bích và Nguyễn
Văn Giáp có sự phối hợp với Nguyễn Đức Ngữ (Đốc Ngữ), Hoàng
Văn Thuý (Đề Kiều) và một số tù trưởng, lang đạo miền núi như Đèo
Văn Thanh, Cầm Văn Toa,…
|
|
(vùng
Hóc Môn, Bà Điểm)
|
Nguyễn
Văn Bường (Đề Bường), Phan Văn Hớn (Quản Hớn)
|
Lúc này, trong bộ chỉ huy triều đình kháng chiến đã dời về căn cứ
ở miền rừng núi phía Tây hai tỉnh Quảng Bình và Hà Tĩnh, bên cạnh Hàm Nghi và
Tôn Thất Thuyết còn có hai con trai của Tôn Thất Thuyết là Tôn Thất Đàm và Tôn
Thất Thiệp cùng danh tướng Trần Xuân Soạn.
Tới cuối năm 1888, do sự phản bội của Trương Quang Ngọc dẫn đường
cho quân Pháp đi sâu vào căn cứ, vua Hàm Nghi đã bị bắt (11-1888). Tổn thất này
gây tâm lý hoang mang trong một số văn thân sĩ phu yêu nước có trách nhiệm đối
với phong trào. Trước đó, Tôn Thất Thuyết đã lên đường sang Trung Quôc (1886)
với mục đích cầu viện, nhưng nhà Thanh lúc này đã bắt tay với Pháp nên chuyến
đi thất bại (vì Pháp đã khoá chặt đường biên giới hai nước Việt Nam – Trung
Quốc nên Tôn Thất Thuyết không về nước được, rồi mất năm 1913 tại Long Châu,
Trung Quốc).
Tuy nhiên, không phải vì vậy mà phong trào tan rã. Trái hẳn lại,
phong trào đấu tranh vũ trang chống xâm lược Pháp vẫn tiếp tục phát triển, càng
về sau càng đi vào chiều sâu và hình thành những trung tâm kháng chiến lớn.
Giai đoạn thứ hai
(1888 – 1896)
Sang
giai đoạn này, sự chỉ đạo của triều đình kháng chiến không còn. Nhưng phong
trào vẫn tiếp tục phát triển quyết liệt, nhanh chóng quy tụ vào một số trung
tâm lớn như Hương Sơn - Hương Khê (Hà Tĩnh), Ba Đình - Hùng Lĩnh (Thanh Hoá),
Bãi Sậy - Hai Sông (Hải Dương - Hưng Yên).
Nhìn
chung, phong trào giai đoạn này vẫn mang tính chất địa phương, chưa phát triển
thành một phong trào có quy mô toàn quốc, thiếu một sự phối hợp liên kết cần
thiết trong khi kẻ thù đối đầu với mình lại có sự chỉ huy thống nhất và có uy
thế tuyệt đối về vũ khí.
Người biên tập: Đỗ Xuân Giang
[1] Tuy trong Nam Kỳ đã bị Pháp chiếm đóng từ rất sớm và đã thiết lập
được bộ máy đàn áp quân sự, kìm kẹp chính trị, bóc lột kinh tế khá hoàn chỉnh
và chặt chẽ nhưng vẫn còn có những cuộc nổi dậy làm cho bè lũ thực dân và tay
sai phải thường xuyên lo tìm cách đối phó.











Nhận xét
Đăng nhận xét